KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC, CUỘC TRƯỜNG KỲ KHÁNG CHIẾN CỦA NHÂN DÂN
KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC, CUỘC TRƯỜNG KỲ KHÁNG CHIẾN CỦA NHÂN DÂN
Nhân dịp kỉ niệm 50 năm Giải phóng Miền Nam – Thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2025), hòa trong không khí vui mừng của toàn dân tộc, chúng tôi cũng rất hân hoan vui mừng chào đón Đất nước thắng lợi đã 50 mùa xuân. Thật không từ ngữ nào diễn tả được sự sung sướng của “Hòa bình”. Tuy nhiên, thời gian gần đây một số video clips trên các nền tảng mạng xã hội đã làm tôi sửng sốt, bất ngờ. Một số người cho rằng “Giải phóng miền Nam” tức là Miền Bắc tấn công vào miền Nam, cục diện trận chiến lúc đó có giống như tình hình Nam Triều Tiên và Bắc Triều Tiên hiện tại? Từ nhỏ, tôi có thắc mắc rằng vậy chính miền Bắc thắng miền Nam sao, mình được sinh ra và lớn lên ở Thành phố Hồ Chí Minh, chẳng lẽ mình là người thua cuộc? Qua quá trình học tập và nghiên cứu, nay tôi muốn làm rõ cho một số quan niệm sai lầm rằng miền Nam là giặc và miền Bắc đã tấn công miền Nam, cũng như một số quan niệm chưa thấu đáo khác: “Không có miền Bắc thì không có miền Nam bây giờ đâu”.
Trong lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam, kháng chiến chống Mỹ không phải là thời điểm duy nhất đất nước ta chịu cảnh chia lìa. Thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh, đất nước ta bị chia cắt thành Đàng Trong – Đàng Ngoài, lấy ranh giới là sông Gianh, 150 năm, hơn 1 thế kỉ bị chia cắt. Thời kỳ Pháp thuộc, đất nước ta phải đấu tranh với chính sách mưu mô của giặc, mà theo nhận định của tôi, hậu quả của chính sách ấy dù trải qua hơn 1 thế kỷ vẫn còn tồn đọng trong một phần nhỏ tư tưởng hệ của người dân Việt Nam ở thời điểm hiện tại. “Chia để trị” – đúng như tên gọi, thực dân đô hộ đã chia Việt Nam thành 3 kỳ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, và Nam Kỳ để dễ dàng cai trị với Nam Kỳ là xứ thuộc địa, Trung Kỳ là xứ bảo hộ và Bắc Kỳ là xứ bán bảo hộ.
Đau thương là vậy, xa lìa là vậy, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, là niềm tin, là ánh sáng cuối đường của thời kỳ tăm tối của dân tộc. Đảng lãnh đạo nhân dân từ những ngày đầu kháng chiến, có lúc trên mảnh đất nhỏ bé của nước ta đã hiện diện quân Tưởng, Anh, Pháp, cùng với 6 vạn quân Nhật. Thời điểm đó được nhận định bởi tác giả sách “Đại cương về Lịch sử Việt Nam” là: “Chưa lúc nào trên đất nước Việt Nam có nhiều kẻ thù như vậy”. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta, sự ủng hộ từ nhân dân, đường lối, chính sách hiệu quả đúng đắn. Tháng 5 lịch sử, ngày 7, lá cờ “Quyết chiến, Quyết thắng” của Quân đội ta tung bay trên nóc hầm tướng Đờ Cát, đánh dấu thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta qua chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, lần đầu tiên một nước “thuộc địa” có thể chiến thắng thực dân phương Tây, làm hình ảnh sáng ngời và là lá cờ đầu của phong trào giải phóng dân tộc cho các nước thuộc địa trên thế giới.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, đất nước ta ký Hiệp định Geneve 1954 về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương, thừa cơ hội thực dân Pháp thất bại nặng nề, Mỹ hất cẳng Pháp can thiệp trắng trợn vào Đông Dương. Tại Việt Nam, Mỹ lập ra chế độ tay sai bù nhìn Ngô Đình Diệm, hiên ngang phá hoại hiệp định Geneve, với hình thức “thuộc địa kiểu mới”, Mỹ đã thành công chia cắt đất nước ta làm 2 miền, với Miền Bắc đã được giải phóng đi theo con đường Xã hội Chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặt tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, miền Nam chịu cảnh xiềng xích của đế quốc Mỹ đi theo con đường Tư bản Chủ nghĩa do Ngô Đình Diệm đứng đầu lấy quốc hiệu là Việt Nam Cộng Hòa. Bạn có thể thấy, mặc dù 2 miền đi theo 2 hệ thống tư tưởng, chủ nghĩa khác nhau, tuy nhiên sự chia cắt này không đến từ mâu thuẫn trong ý thức hệ ở hai miền, mà là do sự tác động của thế lực bên ngoài là đế quốc Mỹ, nhằm biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của Mỹ ở Đông Dương, và là bức tường lớn ngăn cản sự lớn rộng của chủ nghĩa Cộng Sản.
II. SỰ ĐÓNG GÓP CỦA MIỀN BẮC – HẬU PHƯƠNG CHIẾN LƯỢC
Một số quan điểm cho rằng: “Không có miền Bắc thì không có miền Nam ngày hôm nay đâu”. Theo nhận định cá nhân, tôi thấy quan điểm này ĐÚNG nhưng chưa đủ và câu từ có ý kích động, chia rẽ, quan trọng hơn là làm lu mờ vai trò tiền tuyến của chiến trường miền Nam. Nói như vậy không có nghĩa là vai trò của miền Bắc trong kháng chiến giành độc lập là không lớn. Hàng triệu thanh niên xếp bút nghiêng lên đường nhập ngũ, không biết bao nhiêu tờ giấy báo tử đã được gửi về gia đình các chiến sĩ, đó là xương, là máu của đồng bào ta, là bằng chứng rõ nét về tình đoàn kết dân tộc, nhân dân tham gia trường kì kháng chiến bảo vệ Tổ Quốc.
Trong suốt 21 năm ròng rã chia lìa, không biết bao nhiêu lần Hậu phương miền Bắc tiếp tế, hỗ trợ chiến trường miền Nam đánh giặc. Tôi xin được kể về một số thành tựu to lớn về sự giúp sức của hậu phương miền Bắc trong công cuộc đánh Mỹ cứu nước. Có rất nhiều lần miền Bắc chi viện cho miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Để đảm bảo việc vận chuyển lực lượng và vật tư, miền Bắc đã mở rộng và nâng cấp hệ thống đường Đông và Tây Trường Sơn. Đến đầu năm 1975, đã có 1.200 km đường từ Đông Trường Sơn vào Lộc Ninh và 1.240 km đường được nâng cấp ở Tây Trường Sơn. Trên con đường Trường Sơn lịch sử ấy, không biết đã có bao nhiêu cô gái mở đường, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến tình nguyện mở đường giúp đánh thẳng vào xào quyệt Mỹ - Ngụy ở miền Nam. Cũng có những vết máu, linh hồn đồng bào ta ngủ yên trên đoạn đường lịch sử này.
Ở Miền Nam giai đoạn từ năm 1959, tổng thống Ngô Đình Diệm đã ban hành luật 10/59 và các cuộc phát động “chiến dịch tố cộng”, “diệt cộng” từ những năm 1955, khiến cho lực lượng của ta ở miền Nam mỏng dần, chính quyền Diệm lê máy chém đi khắp miền Nam để xử tử những người chúng nghĩa là “cộng sản”. Khi lực lượng ta ở miền Nam đã giảm, hậu phương đã có những cuộc chi viện lớn cho chiến trường miền Nam. Tính từ sau hiệp định Paris (1973 – 1975) đã có gần 50 vạn thanh niên miền Bắc nhập ngũ và sẵn sàng ra mặt trận: Đến cuối năm 1974, trên chiến trường miền Nam đã có 113 trung đoàn bộ binh, 5 trung đoàn tăng - thiết giáp với 700 xe các loại, 1.300 khẩu pháo cao xạ.
Không những thế, những cuộc vận chuyển nhiên liệu thế kỷ đã diễn ra khiến cho chính quyền Sài Gòn và Hoa Kỳ phải sửng sốt. Hậu phương đã âm thầm xây dựng Hệ thống đường ống xăng dầu với chiều dài 1.311 km, 113 trạm bơm và 46 kho dự trữ, đảm bảo nguồn nhiên liệu cho chiến trường miền Nam. Đảm bảo vai trò của Hậu phương vững chắc, giúp miền Nam có đủ nhiên liệu vận hành các thiết bị, khí tài quân sự nhằm thực hiện chiến tranh vũ trang giành chính quyền.
Đó chỉ mới là mặt Hậu cần, hậu phương ruột thịt đã hứng chịu những lần phá hoại nặng nề của Không quân Hoa Kỳ, với 2 lần ném bom phá hoại miền Bắc với tuyên bố hùng hồn từ quân đội Hoa Kỳ rằng sẽ biến miền Bắc về lại “thời kỳ đồ đá”. Chiến tranh ném bom phá hủy miền Bắc lần thứ 2 với chiến dịch “Sấm Rền II”, Mỹ đã sử dụng “pháo đài bay” B52 mà trên thế giới thời điểm bấy giờ không có nước nào hạ được. Ở Việt Nam, sau 12 ngày đêm chiến đấu với không ít sự hi sinh của không chỉ những chiến sĩ, dân quân tự vệ, y bác sĩ, nhân dân, … miền Bắc, sự dũng cảm, mưu lược, thông minh tận dụng các khi tài quân sự được hỗ trợ từ Liên Xô nhằm đánh B52. Cuối cùng, thắng lợi cũng về tay nhân dân ta, nhân dân miền Bắc đã kiên cường đánh được 81 máy bay Mỹ, trong đó có 34 chiếc B52, là nước đầu tiên trên thế giới hạ được B52 của Mỹ, bắt sống nhiều tên phi công giặc buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán kí hiệp định Paris nhằm kết thúc chiến tranh.
III. VAI TRÒ QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÂN DÂN MIỀN NAM
Nếu như nói miền Bắc là hậu phương lớn, thì miền Nam là tiền tuyến lớn với chiến trường hầu như là ở miền Nam. Trong đó nhân dân và chiến sĩ miền Nam đã đóng vai trò quyết định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, góp phần tạo nên chiến thắng chung của dân tộc. Từ năm 1954 đến 1975, trải qua 3 loại hình chiến tranh do Mỹ đề ra, nhân dân miền Nam vẫn giữ vững ý chí quyết tâm, kiên cừng bất khuất Chiến đấu trực tiếp trên tiền tuyến: Nhân dân miền Nam đã tham gia vào các lực lượng vũ trang, từ Quân Giải phóng miền Nam đến các đội du kích địa phương, chiến đấu kiên cường chống lại quân xâm lược. Từ việc đấu tranh chính trị nhằm giữ gìn lực lượng cách mạng đến chiến tranh vũ trang nhằm đem lại lợi thế chiến lược.
Nghị quyết số 15 của Ban Chấp hành TW Đảng Việt Nam mang lại ý nghĩa to lớn, đáp ứng nhu cầu của nhân dân miền Nam, đứng dậy xoay chuyển tình thế, nhân dân lúc đó “không thể sống như cũ được nữa”. Từ đó dẫn đến phong trào “Đồng khởi” diễn ra trên các tỉnh miền Nam. Thắng lợi từ phong trào “Đồng khởi” đã là tiền đề cho việc thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, với lá cờ nửa xanh nửa đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng tượng trưng cho miền Bắc đã giành được độc lập, hoàn toàn giải phóng, miền Nam đang ra sức chống đế quốc nhằm giành lấy hòa bình. Việc thành lập “Mặt trận” là minh chứng to lớn nhất cho quyết tâm của nhân dân miền Nam đánh đuổi quân xâm lược.
Trong quá trình đấu tranh, như đã nói ở trên đã nổ ra hàng trăm Phong trào nổi dậy và đấu tranh chính trị: Các cuộc đấu tranh chính trị, biểu tình, bãi công của nhân dân miền Nam đã làm lung lay hệ thống chính trị của chính quyền Sài Gòn. Đã có rất nhiều thành phần xã hội từ các giai cấp khác nhau tham gia đấu tranh từ giai cấp công nhân, tri thức, học sinh sinh viên, tôn giáo,… Thượng tọa Thích Quảng Đức đã tự thiêu bản thân để phản đối đàn áp tôn giáo của chính quyền Diệm, làm dáy nên sự phẫn nộ của nhân dân thế giới về sự bất bình đẳng tôn giáo tồn đọng ở chính quyền Sài Gòn. Liên tục có những buổi bãi khóa, biểu tình của các sinh viên đã làm rung chuyển chính quyền Mỹ - Ngụy trong có đã có các tấm gương hi sinh như: Quách Thị Trang, …
Không chỉ có sự chi viện lớn về hậu cần từ miền Bắc, nhân dân miền Nam đã cung cấp lương thực, thuốc men, vũ khí và thông tin tình báo cho lực lượng cách mạng, giúp duy trì sức mạnh chiến đấu. Không chỉ dừng lại ở đó, nhân dân miền Nam đã Bảo vệ và nuôi dưỡng cán bộ cách mạng: Nhiều gia đình đã che giấu, nuôi dưỡng cán bộ cách mạng, tạo điều kiện cho lực lượng kháng chiến hoạt động hiệu quả. Địch không thể nào tìm kiếm được lực lượng quân đội ta, vì quân đội ta ở trong nhân dân, quân với dân như cá với nước.
Trên chiến trường ngoại giao, Mặt trận dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam là một chính thể trong 4 chính thể đàm phán ở Hiệp định Paris, từ những giây phút khỏi lửa, đất nước khó khăn, đã sản sinh ra những người con kiệt xuất, đơn cử như bà Nguyễn Thị Bình, nhà ngoại giao vĩ đại, người đã khiêu vũ trước bày sói, vạch mặt tội ác chiến tranh Mỹ - Ngụy cho báo chí quốc tế. Bà cùng ông Lê Đức Thọ đã cùng nhau làm rung chuyển bàn đàm phán của Hoa Kỳ, đưa thắng lợi về mặt ngoại giao về cho nhân dân ta.
Đã có những người con miền Nam kiệt xuất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mặt dù hoạt động ở chiến trường miền Nam còn nhiều khó khăn, sự giám sát, quản lý chặt chẽ của Mỹ - Ngụy, tuy nhiên các chiến sĩ, cán bộ Cách mạng của ta vẫn giữ nguyên ý chí. Con dân Củ Chi đã xây dựng thành công Địa đạo Củ Chi, là nỗi ám ảnh của quân Mỹ khi bước chân đến mảnh đất này. Đại tá tình báo Tư Cang, hay Phạm Xuân Ẩn, những người tình báo sống trong lòng địch, đánh địch từ trong nội bộ địch khiến người ta phải khâm phục. Nữ tướng “Tiểu long nữ Sài Gòn” Phùng Ngọc Anh đã thực hiện nhiệm vụ ám sát các tên lính Mỹ, khi bị bắt cùng đồng chí Lê Thị Riêng, chúng nhúng tay bà vào dung dịch hóa chất đặc biệt nhằm phát hiện mùi thuốc súng. Mặc dù đau đớn nhưng nụ cười khinh thường của bà đã đạp đổ ý chí của bọn chúng. Miền Nam cũng sản sinh ra rất nhiều người con chiến sĩ, những bà mẹ Việt Nam anh hùng
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đánh vào các căn cứ quân sự Mỹ - Ngụy, các vị trí chiến lược trong đó có Dinh Độc lập, Tòa đại sứ quán Mỹ, nha cảnh sát,… Mặc dù không trực tiếp đưa đến chiến thắng thống nhất được tức thời tuy nhiên đã làm sụp đổ tinh thần của Mỹ và chính quyền tay sai. Dù hi sinh nhiều chiến sĩ, nhân dân miền Nam vẫn giữ một trái tim sắt đá với ý chí quyết tâm chống giặc cứu nước. Và cuối cùng, vào ngày 30/4/1975, hiệp lực cùng quân đội chính quy, quân ta đã húc đổ cánh cổng Dinh Độc lập, treo lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam trên nóc Dinh, đánh dấu chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng.
Ngay trong ngày 30/4/1975 và vài ngày sau đó, nhân dân miền Nam đã áp dụng phương thức “xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh” hỗ trợ sức lực cho chính quyền Cách mạng bắt sống tàn dư Ngụy quân, Ngụy quyền. Các cuộc mít tinh ăn mừng đã diễn ra trên khắp đất nước Việt Nam, sau 21 năm xa cách, nay đã nối lại đôi bờ, lá cờ Giải phóng tung bay khắp miền Nam. Cuộc trường kỳ kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta toàn thắng!
III. Kết luận
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là cuộc chiến tranh nhân dân, với lực lượng nòng cốt từ nhân dân, sự ủng hộ của nhân dân 2 miền. Cả 2 miền đã phải gồng mình chống đế quốc và đã chịu sự tổn thất rất lớn. Vì thế nhiều luận điệu xuyên tạc “Miền Nam là giặc” là không chính xác cần phải lên án. Cùng với đó là những giọng điệu trịch thượng, phủ nhận công lao của nhân dân miền Nam cũng nên được điều chỉnh. Chính vì chưa thực sự hiểu và không phân tích sâu sắc vào tình hình lịch sử, cục diện chung của dân tộc mà đưa ra nhận định sai sót. Nghiêm trọng hơn, lợi dụng việc chưa tinh tường thấu đáo tình hình, các thế lực thù địch vẫn ngày ngày kích động, chia rẽ nhân dân 2 miền qua các nền tảng, âm thầm thực hiện việc lật sử, cách mạng màu ảnh hưởng đến nền độc lập, tự do của dân tộc ta.
“Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi.” (Chủ tịch Hồ Chí Minh)
Chính vì lẽ đó, mà tôi mong muốn các bạn thông qua bài viết này nhằm hiểu rõ hơn về sự chiến thắng của toàn dân tộc, dân tộc ta kháng chiến cứu nước. Hãy cảnh giác trước các thông tin sai lệch nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phân biệt vùng miền làm ảnh hưởng sâu sắc đến tình dân tộc anh em của nhân dân ta.
Tác giả: Võ Trường An./.