Đầu thế kỷ 21, Aaron Friedberg trong bài “Will Europe’s past be Asia’s future?”(2000) dự đoán rằng tương lai của Châu Á sẽ giống như những gì xảy ra ở Châu Âu trong quá khứ. Ngoài ra, 05 năm sau đó, David Kang trong bài “Why China’s Rise will be Peaceful: Hierarchy and stability in the East Asia region” cho rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ đem lại sự ổn định trong khu vực. Ngày nay, năm 2025, Châu Á có thực sự như Friedberg và Kang đã dự báo?
Năm 2000 và 2005, David C. Kang và Aaron L. Friedberg là hai trong số nhiều học giả quan tâm đến sự trỗi dậy của Trung Quốc thế kỷ 21. Trong bài viết – “Why China’s Rise will be Peaceful: Hierarchy and stability in the East Asia region”, khác với một số học giả khác như John Mearsheimer, Robert Powell khi cho rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ mang lại sự bất ổn cho khu vực, Kang lập luận rằng Trung Quốc không phải chỉ mới tăng trưởng nhanh gần đây mà đã kéo dài gần ba thập kỷ trước. Theo Kang thì có rất ít bằng chứng cho thấy khu vực đang đi vào trạng thái cân bằng hoặc việc trỗi dậy của Trung Quốc gây ra sự báo động quá mức cần thiết.
Kang cũng không cho rằng sự cân bằng là do Mỹ mang lại với tư cách là người cân bằng quyền lực quốc tế, làm giảm mức độ xung đột trong khu vực hoặc đối trọng với quyền lực Trung Quốc vì thật ra chỉ có Đài Loan và Nhật Bản là hoàn toàn dựa hẳn vào chiếc ô an ninh của Mỹ nhằm cân bằng quyền lực với Trung Quốc, trong khi đó Việt Nam, Thái Lan, Philippines và thậm chí là Hàn Quốc đã không chọn việc hợp tác chặt chẽ với Mỹ. Sự trỗi dậy của Trung Quốc qua lăng kính của chủ nghĩa tự do của Kang cho rằng các quốc gia khác trong khu vực sẽ nhìn vào lợi ích kinh tế, thương mại từ việc hợp tác và hưởng lợi từ Trung Quốc hơn là nổ lực cân bằng quyền lực. Và thậm chí ngay cả khi Mỹ rút khỏi khu vực vẫn không có sự nguy hiểm hay bất ổn vì sự xuất hiện và vận hành rất tốt của các tổ chức đa phương khu vực và lợi ích lớn kinh tế, thương mại từ sự trỗi dậy của Trung Quốc mang lại.
Trong khi đó, Friedberg trong bài viết “Will Europe’s past be Asia’s future?” lại bi quan đưa một viễn cảnh bất ổn và phân cực ở Châu Á như bóng ma quá khứ của Châu Âu. Ông phân tích những động thái quân sự của Trung Quốc như một quyết tâm của chủ nghĩa bá quyền của Trung Quốc. Cũng như các nhà chủ nghĩa hiện thực, phản ứng của các nước trong khu vực trước những chính sách mạnh mẽ của Trung Quốc trong việc củng cố quyền lực của mình trong khu vực đã tạo nên sự bất an và rối loạn tình hình an ninh chính trị trong khu vực; hệ thống đa cực ở Châu Á gồm Nhật Bản, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ và các nhóm nước có khả năng công nghệ và quân sự tiềm tàng đã không thể xoay quanh trục tư tưởng và ổn định được như Châu Âu ở thế kỷ XVIII – XXI.
Dưới góc nhìn của chủ nghĩa kiến tạo (constructivism) Friedberg, truyền thống cạnh tranh chính trị lâu đời của Ấn Độ, Nhật Bản, Nga và sự phân cấp của Trung Quốc trong khu vực, các nước này sẽ không dễ dàng chấp nhận chủ nghĩa bá quyền này mà sẽ có những phản ứng rõ rệt. Điển hình là Ấn Độ đã xem trọng sự tầm soát hạt nhân, tăng cường lực lượng hải quân và thậm chí tiến tới nồng ấm qua hệ với Mỹ hơn là phát triển kinh tế. Đối với Nhật Bản, trái với lập luận về sự ràng buộc về kinh tế lẫn nhau của Kang và Tom Burger khi cho rằng Nhật Bản và Trung Quốc sẽ có những bước tiến quan hệ ngày càng tiến triển và không có dấu hiệu phai nhạt, Friedberg lại nhìn vào quá khứ hai lần tấn công của Nhật Bản để khẳng định rằng quan hệ Nhật – Trung sẽ khó có thể tiến triển hơn, và Nhật Bản chính là nơi trị thương cho lính Mỹ, cũng như đạn dược, vũ khí có thể vận chuyển tới lực lượng chiến đấu với Triều Tiên.
Giai đoạn 2000 - 2018
Xét về khía cạnh địa lý, Friedberg cho rằng sự thay đổi công nghệ đã đưa các quốc gia trong khu vực Châu Á vào bờ vực nghi ngờ, căng thẳng, thậm chí chạy đua vũ trang và đe dọa nhau khi Trung Quốc lần lượt công bố các vũ khí tối ưu của mình, làm xóa lợi thế địa lý xa cách giữa thủ đô của các nước lớn (so với nhiều quốc gia ở Châu Âu được bao bọc bởi biển và không có đường biên giới chung trên đất liền hoặc có đường biên giới chung nhưng được phân chia bằng nhựng ngọn núi lớn, hiểm trở và có điều kiện khí hậu khắc nghiệt).
Về mặt địa chính trị, Friedberg cho rằng việc Mỹ tiếp tục can dự vào Châu Á có thể dẫn đến xung đột với Trung Quốc vì nếu Mỹ rút lui thì các cường quốc Châu Á khác sẽ “nhích lại” với Trung Quốc thay vì nổ lực cân bằng sức mạnh. Bên cạnh đó Châu Á, theo Barry Burzan và Segal, có một đặc thù văn hóa riêng trong việc hòa giải và giải quyết các xung đột khu vực. Họ thường tìm kiếm các thể chế không chính thức và cách giải quyết các vấn đề tranh chấp “trong yên lặng”.
Xét lại ta thấy, đặc điểm của Châu Á – Thái Bình Dương là có một sự chênh lệch về trình độ phát triển (do đó sẽ dẫn đến sự chênh lệch về lợi ích) và có sự cạnh tranh rất quyết liệt từ cá nước lớn. Khu vực này cũng chứa đựng nhiều ngòi nổ lớn như vấn đề Bắc Triều Tiên, Đài Loan, tranh chấp Biển Đông liên quan đến nhiều quốc gia như Trung Quốc, Philippines, Nhật Bản, Việt Nam và khu vực đang thiếu vắng cơ chế giải quyết an ninh hiệu quả. Từ những đặc điểm trên chúng tôi cho rằng lập luận của Friedberg là có cơ sở và mang tính thuyết phục hơn của Kang.
Trong khi Kang tập trung vào các hành động và tuyên bố trấn an thiếu cơ sở của Trung Quốc về chiến lược “trỗi dậy hòa bình” của và các thể chế quốc tế hóa đa phương trong khu vực Châu Á và dân chủ hóa ở một số quốc gia trong khu vực ngày càng tăng như một xu hướng trong hầu hết chính sách đối ngoại của Châu Á. Friedberg lại cho rằng những diễn biến bất ổn về kinh tế trong khu vực khiến mô hình lý thuyết tự do này sụp đổ, hệ thống nguyên tắc chung và sự cân bằng quyền lực ở Châu Á là điều không đủ để kiềm hãm chủ nghĩa bá quyền đang trỗi dậy của Trung Quốc qua các hoạt động quân sự ngày càng leo thang của Trung Quốc.
Tuy nhiên Friedberg và Kang đều có cùng quan điểm khi cho rằng, khu vực Châu Á vẫn còn tồn tại sự ổn định và không trở thành quá khứ của Châu Âu. Cùng với Gerald Segal, Kishore Mahbabuni, Sammuel Huntington, Friedberg chỉ ra rằng Châu Á có văn hóa hành vi chấp nhận trật tự, tôn kính và chấp nhận luôn sự bá quyền tự nhiên của Trung Quốc (Trung Quốc có diện tích rộng lớn, giàu tài nguyên, kinh tế phát triển hơn hẳn các nước khác trong khu vực). Hầu hết các quốc gia hoặc là hợp tác, hoặc chịu lệ thuộc Trung Quốc như một hành vi truyền thống lâu đời. Bản sắc văn hóa thứ hai đặc trưng của Châu Á đó chính là hòa giải và ổn định, tránh đối mặt và đối đầu trực tiếp như Mahbabuni dẫn chứng việc Châu Á -Thái Bình Dương tạo ra các mạng lưới, qua các thể chế quốc tế thay vì xây dựng thể chế mạnh mẽ như khu vực Đại Tây Dương.
Mặc cho có những bác bỏ văn hóa này bằng dẫn chứng lịch sử hung bạo của xung đột của Trung Quốc, Campuchia, Việt Nam và Indonesia (Barry Buzan và Segal), Friedberg vẫn đặt niềm tin về sự rút kinh nghiệm của Châu Á từ bài học lịch sử của Châu Âu dù tồn tại trong khu vực còn nhiều thách thức bất ổn và khó hòa giải trước sự trỗi dậy của Trung Quốc. Kang bỏ qua các yếu tố vật chất quyết định sự ổn định của khu vực nếu Trung Quốc trỗi dậy mà tập trung vào việc Trung Quốc tuyên bố ý định của mình đối với các nước láng giềng và kết luận rằng Đông Á sẽ tăng cường điều chỉnh quan hệ và hành vi hơn với Trung Quốc thay vì cân bằng với nó.
Giai đoạn 2018 cho đến nay
Nhìn lại một lần nữa, cả hai bài viết “Will Europe’s past be Asia’s future?” của Aaron Friedberg và “Why China’s Rise will be Peaceful: Hierarchy and stability in the East Asia region” của David Kang đều được viết trước năm 2007. Thời điểm đó, kể từ năm 2007, Trung Quốc đã có chiến lược đối ngoại, an ninh mang tính chủ động và quyết liệt hơn chiến lược “Giấu mình chờ thời” hay “Ngoại giao hài hòa” trước đây. Ngày 3/7/2007 Quốc Vụ Viện Trung Quốc phê chuẩn việc thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để trực tiếp quản lý ba quần đảo mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa, trong đó Tây Sa là Hoàng Sa, và Nam Sa là Trường Sa của Việt Nam. Hành động đã vấp phải nhiều cuộc biểu tình phản đối chống Trung Quốc ở Việt Nam và quốc tế.
Theo Thông báo ngày 12/3/2025 của Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc gửi các nước thành viên nêu rõ, vào ngày 7/3/2025, phù hợp với khoản 2 Điều 16 của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã tiến hành lưu chiểu với Liên Hợp Quốc hải đồ cùng với danh sách tọa độ địa lý các điểm xác định đường cơ sở thẳng cho lãnh thổ đất liền ở Vịnh Bắc Bộ và ranh giới ngoài lãnh hải tại khu vực này. Ngày 14/3/2025, trang web của Liên Hợp Quốc đã đăng tải tại địa chỉ www.un.org/Depts/los các thông tin chi tiết về nội dung lưu chiểu.
Điều này cho thấy nhiều lặp luận trong bài viết đã không còn phù hợp với thời điểm hiện tại trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Điển hình như lập luận “Nếu Mỹ rút khỏi khu vực, Đông Á sẽ không trở nên nguy hiểm hay mất ổn định như các nhà lý thuyết cân bằng quyền lực nhận định, bởi các nước khác sẽ điều chỉnh để thích nghi với vai trò trung tâm của Trung Quốc ở Đông Á, hơn là trở thành thế đối trọng với nó”. Đây là lập luận khá chủ quan vì sự rút lui của Mỹ sẽ đưa Trung Quốc trở thành bá chủ của khu vực này. Tác giả có nói rằng trong số các nước Châu Á, Nhật Bản là nước có khả năng cao nhất thách thức vị trí bá chủ của Trung Quốc trong khu vực, nhưng Nhật Bản chưa có mong muốn làm như vậy là dường như cũng không có ý định làm như vậy trong tương lai (Signaling China’s intentions, tr.552).
Chưa kể, không chỉ trong khu vực Châu Á, mà ở trên toàn thế giới, Trung Quốc cũng đã và đang gia tăng sức ảnh hưởng của mình, với mong muốn thay thế vị trí bá chủ thế giới của Mỹ. Trong bài phát biểu khai mạc Đại hội 19 đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Tập Cận Bình đã bày tỏ tham vọng biến Trung Quốc thành siêu cường hàng đầu thế giới vào năm 2050. James L. McGregor, nhà báo, doanh nhân người Mỹ sống ở Trung Quốc trong hơn 25 năm và là một trong số ít những cây bút phương Tây viết về việc kinh doanh ở Trung Quốc, nhận định Trung Quốc đang tìm cách lấp đầy lỗ hổng quyền lực thế giới trong bối cảnh Mỹ đang rơi rút lui khỏi vai trò lãnh đạo toàn cầu với chính sách "nước Mỹ trên hết" của Tổng thống Donald Trump, Châu Âu cũng trở nên bất ổn hơn bao giờ hết. "Thế giới cần tìm kiếm một lãnh đạo mới và Trung Quốc đang tìm cách đảm nhận vai trò này[1]".
Tuy nhiên, cho đến nay, thế giới chứng kiến sự quay lại lần thứ hai của Tổng thống Donald Trump vào ngày 20/01/2025 và sự chuẩn bị trước các phương án, chiến lược dần độc lập hơn của EU như các quyết sách đối ngoại ngày càng cứng rắn hơn của Đức, Pháp và các quốc gia thành viên trong liên minh trong vấn đề giải quyết xung đột Ukraine-Nga. Hơn nữa, mặc dù tồn tại nhiều bất ổn, nhưng EU vẫn nỗ lực duy trì NATO, cũng như vai trò của mình trong các thể chế để phá vỡ sự ràng buộc với Hoa Kỳ với các diễn ngôn sắc bén hơn đến từ Tân thủ tướng Đức Friedrich Merz và Tổng thống Pháp Emmanuel Macron. Ngoài ra, EU hiểu hơn bao giờ hết về sự phụ thuộc này nên các chính sách đối ngoại của EU không quá mặn mà đối với vị đối tác chiến lược đến từ Châu Á là Trung Quốc.
Một lập luận nữa mà chúng tôi cho rằng mang tính dự đoán chủ quan là “Đông Á sẽ miễn cưỡng phải chọn phe, và nếu nhất định phải làm vậy, nhiều nước sẽ không chọn Mỹ”. Điều này đi ngược câu nói nổi tiếng của Huân tước Viscount Palmerston (Anh) “Nations have no permanent friends or allies, they only have permanent interests” (Tạm dịch: Không có bạn bè hay đồng minh vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia là mãi mãi). Và trường hợp của Philippines, một nước đồng minh hiệp ước với Mỹ kể từ những năm 1950. Ngay từ năm 2016 khi trở thành tổng thống, ông Rodrigo Duterte cho thấy thái độ “xoay trục” sang Trung Quốc, nhưng cho đến nay, Philippines vẫn có nhiều phát ngôn về quan hệ với Mỹ: “Mỹ không phải là kẻ thù của chúng tôi. Trung Quốc cũng không phải là kẻ thù của chúng tôi.” Điều này cho thấy vẫn chưa có dấu hiệu chọn phe ở khu vực Châu Á.
Ngoài ra, “ưu tiên lớn nhất chính là lợi ích của quốc gia chúng tôi”, Thủ tướng Eduardo Ano – Tổng tham mưu trưởng quân đội Philippines nói thêm. “Chúng tôi muốn trở thành đối tác quan trọng của mọi quốc gia lớn trên thế giới. Dĩ nhiên Mỹ là số 1, sau đó là Trung Quốc, Nga và Nhật Bản. Chúng tôi không muốn cách xa Mỹ. Mỹ và chúng tôi thật sự là các đối tác thương mại và có liên hệ về mặt văn hóa”, Dexter Feliciano, người sáng lập một công ty khởi nghiệp tại thủ đô Manila[2]. Bộ trưởng Ngoại giao Alan Peter S. Cayetano trong cuộc gặp gỡ với Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa ở Washington năm ngoái đã nói rằng Philippines muốn tăng cường hợp tác kinh tế với Mỹ trong nỗ lực tăng cường quan hệ song phương. Do đó, theo chúng tôi đối với các nước Nhật Bản (có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc) và Hàn Quốc hay vùng lãnh thổ Đài Loan thì trước mắt không thể không chọn Mỹ.
Tóm lại, sự trỗi dậy của Trung Quốc thu hút nhiều sự quan tâm của nhiều lãnh đạo của các cường quốc khu vực và phương Tây. Nhưng dường như chưa đủ để kết luận về một tương lai bi quan cho khu vực Châu Á và sự tái cấu trúc quyền lực ở khu vực này, vì bản chất của khu vực Châu Á còn nhiều chênh lệch khác biệt so với Châu Âu.
Tác giả: NNXT./.
[2] https://tuoitre.vn/philippines-mieng-vuot-ve-my-tay-cam-vu-khi-trung-quoc-20171006110257957.htm