Các dàn xếp an ninh khu vực song phương và đa phương luôn là điểm mấu chốt trong vấn đề ngoại giao của Châu Á – Thái Bình Dương từ sau Chiến tranh lạnh cho đến nay (Số 17 – Kiến trúc an ninh khu vực châu Á – Thái Bình Dương, 2012).
Về an ninh
Tháng 11 năm 1995, Indonesia đã đi đầu xu hướng đối thoại song phương bằng việc đặt quan hệ song phương với Úc và sau đó là các quốc gia khác trong khu vực. Từ năm 1997, vì các lý do đe dọa an ninh, Trung Quốc và Nga đã ký Thỏa hiệp “đối tác chiến lược Thế kỷ 21” với nhau và gia tăng khối quân sự. Theo sau đó là Ấn Độ và các nước khác trong khu vực để cảnh báo sự đe dọa của khối NATO. Năm 2014, Nhật – Úc thiết lập khuôn khổ “đối tác chiến lược đặc biệt”, đặc biệt Nhật – Úc – Philippines liên kết nhằm hỗ trợ Mỹ “Tái cân bằng” khu vực. Tiếp theo là những liên kết quan hệ song phương của Mỹ với các thành viên trong khu vực về các vấn đề an ninh chính là vũ khí hạt nhân, bồi đắp đảo nhân tạo và khủng bố (Số 19 – Nga và Trung Quốc xây dựng quan hệ đối tác chiến lược hướng tới thế kỷ 21, 2012).
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng James Mattis đã vạch ra những cách tiếp cận an ninh đối với khu vực này là ngoài thắt chặt mối quan hệ đồng minh với Nhật, Hàn và Đài Loan, thì Úc, Singapore, Thái Lan và Philippines cũng được nhấn mạnh tầm quan trong trong vấn đề đặt quan hệ ngoại giao, nhằm đưa ra tuyên bố chung cho những vấn đề an ninh Thế kỷ 21. Các mối quan hệ đa phương trong khu vực, theo Pan Guang nổi bật nhất có SCO – Tổ chức năm thành viên Trung Quốc, Nga, Kazakhstan, Kyrgyzstan và Tajikistan nỗ lực giải quyết các vấn đề về tranh chấp biên giới, chống khủng bố ở Trung Á và chống sự l an rộng của xung đột trong khu vực. Ngoài ra còn có các Hiệp định đa phương LOSC – 1982, COLREG – 1972, CUES – 2014 nhằm xây dựng các quy tắc ửng xử trên Biển Đông, tránh các cuộc trạm chán xảy ra (Các biện pháp xây dựng lòng tin trên biển ở Biển Đông, n.d.), Diễn đàn hợp tác Kinh tế APEC, Diễn đàn hợp tác Á – Âu ASEM,.v.v
Kevin Rudd-Chủ tịch Viện EAS, Đại sứ Việt Nam Phạm Quang Vinh, Cố vấn An ninh Quốc gia Ấn Độ Shivshankar Menon (2017) và học giả Brendon Taylor (2009) đã đánh giá cao sự phát triển của ASEAN và các cơ chế do ASEAN dẫn dắt trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Tuy nhiên, ASEAN cần phải xem xét và đổi mới để có thể đáp ứng được cục diện thay đổi của khu vực, trong đó trọng tâm là về cơ chế Cấp cao Đông Á (EAS), với tư cách là diễn đàn của lãnh đạo cấp cao, bàn về các vấn đề mang tính chiến lược cả về chính trị, an ninh và kinh tế của khu vực (Tăng Cường Các Cơ Chế an Ninh ở Khu Vực Châu Á – Thái Bình Dương, n.d.). Ngoài ra còn có các cơ chế Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM), và các thể chế mở rộng khác trong khu vực mà ASEAN giữ vai trò trung tâm chính là đặc thù của cấu trúc an ninh khu vực. Phải chú ý đến đó là các sáng kiến tổ chức của Trung Quốc như Khu vực Thương mại Tự do CA-TBD (FTAAP), Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) và “Con đường tơ lụa” trên biển thế kỷ XXI.
Ngoài ra, được khởi xướng vào năm 2002, đây là hội nghị thượng đỉnh an ninh thường niên tại Singapore Đối thoại Shangri-La (Shangri-La Dialogue), tạo diễn đàn cho các bộ trưởng quốc phòng và quan chức quân sự cấp cao trong khu vực thảo luận về các vấn đề an ninh và quốc phòng. Thành lập năm 1993, Hội đồng Hợp tác An ninh Châu Á-Thái Bình Dương (Council for Security Cooperation in the Asia Pacific – CSCAP là một tiến trình phi chính phủ nhằm thúc đẩy đối thoại về các vấn đề an ninh trong khu vực, với sự tham gia của 21 ủy ban thành viên từ các quốc gia như Úc, Canada, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga, Hoa Kỳ và các nước ASEAN. Hay Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (Shanghai Cooperation Organisation – SCO) thành lập năm 2001 bởi Trung Quốc, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Nga, Tajikistan và Uzbekistan, SCO tập trung vào hợp tác an ninh khu vực, chống khủng bố và các mối đe dọa xuyên quốc gia. Sau này, Ấn Độ và Pakistan cũng gia nhập tổ chức này.
Nhìn chung, tất cả các yếu tố trên cho thấy cấu trúc an ninh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương là sự đan xen, chồng chéo và chưa có tính liên kết cao. Nổi bật trong đó là phản ứng của các nước trong khu vực trước sự trỗi dậy của Trung Quốc và sự can thiệp của Mỹ để tranh giành ảnh hưởng ở khu vực. Các động thái tăng cường siết chặt ngoại giao với ASEAN của Trung Quốc và những trấn an về hòa bình, ổn định khu vực, đưa ra khái niệm an ninh mới theo hướng giảm vai trò của Mỹ trong việc giải quyết các vấn đề trong khu vực Châu Á. Cùng với đó là chiến lược “Tái cân bằng” và chính sách ngoại giao “xoay trục” của Mỹ cũng khẳng định vai trò không thể thiếu của quốc gia này (Những Chuyển Động Trong Cấu Trúc an Ninh Khu Vực Châu Á – Thái Bình Dương – Tạp Chí Quốc Phòng Toàn Dân, n.d.).
Về kinh tế thương mại
Sau Chiến tranh Lạnh, khu vực Châu Á-Thái Bình Dương đã chứng kiến sự hình thành và phát triển của nhiều cơ chế hợp tác song phương và đa phương trong các lĩnh vực kinh tế và thương mại. Trong đó, quan trọng nhất, đóng vài trò đầu tàu và đối trọng với các nền kinh tế khu vực khác, phải kể đến đó là: Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (ASEAN Free Trade Area – AFTA), được ký kết năm 1992, AFTA nhằm thúc đẩy thương mại nội khối ASEAN thông qua việc giảm thuế quan và loại bỏ các rào cản thương mại, tăng cường cạnh tranh và thu hút đầu tư nước ngoài. Tiếp theo là Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (Regional Comprehensive Economic Partnership – RCEP): Ký kết vào tháng 11 năm 2020, RCEP bao gồm 15 quốc gia Châu Á-Thái Bình Dương, như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước ASEAN, tạo nên khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới, chiếm 28% thương mại toàn cầu và 50% xuất khẩu dệt may (Biondi, 2020).
Bên cạnh đó còn có APEC (Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương), thành lập năm 1989, gồm 21 nền kinh tế thành viên. Hay CPTPP (Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương), tiền thân là TPP, Hiệp định hướng tới tiêu chuẩn cao về thương mại, lao động, môi trường, sau khi Mỹ rút thì còn lại 11 nước. Cuối cùng, không thể bỏ qua đó là Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương vì Thịnh vượng (Indo-Pacific Economic Framework for Prosperity – IPEF), ra mắt vào tháng 5 năm 2022 bởi Hoa Kỳ và 13 quốc gia khác, IPEF nhằm thiết lập hợp tác kinh tế trong khu vực, tập trung vào các lĩnh vực như thương mại, chuỗi cung ứng, kinh tế sạch và kinh tế công bằng (US Commerce Secretary Hails Progress at Year’s First Meeting of Indo-Pacific Trade Grouping | AP News, 2024)
Đối tác chiến lược
Ngoài ra, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương còn có các liên minh ba bên như Hoa Kỳ-Nhật Bản-Úc: Được củng cố nhằm đối phó với sự gia tăng ảnh hưởng quân sự của Trung Quốc, liên minh này tập trung vào chia sẻ công nghệ quân sự và tăng cường hợp tác an ninh khu vực (Australia Accuses China Fighter Jet of “unsafe” Conduct above South China Sea – Asia & Pacific – The Jakarta Post, n.d.). Đối tác Hoa Kỳ-Nhật Bản-Philippines: Hoa Kỳ đang tăng cường quan hệ đối tác với Nhật Bản và Philippines để đối phó với các thách thức an ninh từ Trung Quốc, đặc biệt trong việc bảo vệ tự do hàng hải ở Biển Đông và eo biển Đài Loan (Why the U.S. Is Fostering a Network of Partnerships Across the Indo-Pacific | TIME, n.d.). Về cơ chế hợp tác song phương, đáng kể đến là Việt Nam và Hoa Kỳ cũng nâng tầm Quan hệ đối tác chiến lược vào năm 2023, Nhật Bản và Ấn Độ có Quan hệ đối tác chiến lược toàn cầu, Nhật Bản – Úc có đối thoại chiến lược song phương 2+2, các cuộc diên tập trận chung giữa Hoa Kỳ – Philippines (Balikatan), Ấn Độ và Singapore (SIMBEX). Cũng như các quan hệ song phương sâu rộng của Trung Quốc với từng quốc gia ASEAN như Campuchia, Lào, Malaysia… đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư và cơ sở hạ tầng (ví dụ: Sáng kiến Vành đai và Con đường – BRI). Cuối cùng là lĩnh vực lĩnh vực giáo dục, hạ tầng và chuyển giao công nghệ còn có quan hệ giữa Việt Nam – Nhật Bản, Mỹ – Nhật Bản và Mỹ – Hàn Quốc (ASEAN Secretariat (2022), ASEAN External Relations: Bilateral Cooperation Frameworks).
Nhìn chung, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương là khu vực mang xu hướng hợp tác theo chủ nghĩa khu vực (regionalism) hơn, nghĩa là nó bắt nguồn từ việc quan tâm đến sự tồn tại và an ninh của các nhà lãnh đạo của quốc gia, hơn là việc các quốc gia có đặc điểm chung về vị trí địa lý và hình thành hợp tác trên giao thoa văn hóa (regionalization). Những cơ chế song phương và đa phương phản ánh nỗ lực của các quốc gia trong khu vực nhằm thúc đẩy hợp tác, duy trì ổn định và phát triển kinh tế sau giai đoạn Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, có thể thấy, cũng như mục đích ban đầu, du cho vẫn đảm bảo cho phát triển kinh tế, các cơ chế hợp tác của khu vực chú trọng vào bảo đảm quốc phòng, an ninh hơn. Thứ hai, các cơ chế duy trì sự hiện diện của các siêu cường tại khu vực như một bài toán “Cân bằng quyền lực” trong QHQT khu vực nói riêng và thế giới nói chung. Có thể nói, cả hai nhân tố trên đều nói lên yếu tố duy lý trong hợp tác ở khu vực này.
Tác giả: NNXT./.