Khi phân tích, dự báo cục diện thế giới thường dựa trên ba thành tố chủ yếu: (1) cấu trúc dựa trên so sánh tương quan sức mạnh và quyền lực của các nước lớn và quốc và các trung tâm quyền lực lớn trên bình diện chủ yếu song phương và đa phương; (2) các đặc điểm lớn, các nhân tố tác động và các xu hướng vận động chủ yếu của quan hệ quốc tế đương đại; và (3) vai trò và đặc điểm của hệ thống các thể chế, các cơ chế hợp tác toàn cầu, liên khu vực và khu vực. Ngoài ra, nghiên cứu cục diện thế giới không mâu thuẫn với bản chất vận động không ngừng của tình hình quốc tế, vì không bỏ qua các nhân tố chủ quan (chiến lược, chính sách của các chủ thể) và khách quan (xu thế lớn của thế giới), vì sự thay đổi, vận động không ngừng của các yếu tố này sẽ tác động tương quan và dẫn đến thay đổi cục diện.
Ngoài ra, cần làm rõ sự khác nhau giữa cục diện thế giới và trật tự thế giới. Vì tuy cả hai đều phản ánh sự phân bổ và tương quan lực lượng giữa các chủ thể trong hệ thống quốc tế. Nhưng trật tự thế giới mang tính ổn định tương đối dài, còn cục diện thì biến đổi liên tục. Thứ hai, trật tự thế giới gắn với tư duy quyền lực, thứ bậc, thể hiện vị trí của chủ thể trong quá trình xây dựng và thực hành “luật chơi” trong các thể chế và quan hệ quốc tế. Còn cục diện là “lát cắt” của trật tự trong một thời điểm nhất định và phản ánh sự vận động cán cân quan hệ quốc tế. Ngoài ra, trật tự thế giới không phải lúc nào cũng được phản ánh rõ ràng (thời kỳ quá độ), nhưng cục diện thế giới thì luôn biểu hiện và xác định ở mọi thời điểm thực hiện nghiên cứu.
Có thể thấy, cục diện thế giới “đa cực, đa trung tâm” hay “multicentric world” là thuật ngữ xuất hiện trong hơn 127,000 kết quả tìm kiếm trên các nền tảng lưu trữ nghiên cứu khoa học, trong đó, đáng chú ý là Sách Governance and Policy in a Multicentric World của học giả Daniel Wolfish và Gordon Smith, xuất bản University of Toronto Press vào tháng 8 năm 2000 có phân tích cụ thể rằng, thế giới đa trung tâm là thuật ngữ được tiếp cận bằng ba cách: (1) quan hệ quốc tế truyền thống; (2) quan hệ quốc tế mở rộng chủ thể ra khỏi phạm vi quốc gia đến các tổ chức phi và cách thứ (3) là cách tiếp cận trừu tượng theo trường phái kiến tạo. Có thể hiểu, khái niệm “multicentric world” (thế giới đa trung tâm) dùng để chỉ một trật tự quốc tế trong đó không có một quốc gia hay nhóm quốc gia nào chiếm ưu thế tuyệt đối về quyền lực chính trị, kinh tế hay quân sự. Thay vào đó, nhiều trung tâm quyền lực cùng tồn tại và tương tác với nhau, tạo nên một hệ thống quốc tế đa dạng và phức tạp hơn.
Theo đó, cách tiếp cận truyền thống cho rằng, thế giới đa cực là sự tồn tại của ba hoặc nhiều quốc gia hùng mạnh tương tác trong hệ thống quốc tế; một thế giới đa trung tâm trái ngược với thời kỳ Chiến tranh lạnh, chỉ có hai siêu cường. Theo định nghĩa này, quyền lực được hiểu là phương tiện của một quốc gia để theo đuổi lợi ích của mình trên trường quốc tế. Tuy nhiên quyền lực đề cập đến năng lực của quốc gia và các nguồn lực được sử dụng để theo đuổi lợi ích và thúc đẩy các quốc gia khác hành động theo mong muốn của người nắm quyền lực (Robert Keohane, 1986). Ngoài ra, tuy có sự phân biệt giữa “cực” và “trung tâm” trong QHQT, ngày nay trong ngữ cảnh kinh tế, toàn cầu hóa, hợp tác mạng lưới và sự lên ngôi của địa chính trị, an ninh lên ngôi, hai khái niệm luôn được đặt kế bên.
Cách tiếp cận thứ hai, giống như cách tiếp cận đầu tiên, nhưng mở rộng phạm vi phân tích các bên tham gia vào chính trị vượt ra ngoài các quốc gia và chính phủ, như các tổ chức phi chính phủ và các công ty có ảnh hưởng đến chính sách công và các quy trình quản trị theo những cách khác nhau và ở các mức độ khác nhau. Theo quan điểm này, quyền lực được hiểu là vô hình hơn nhiều so với theo định nghĩa trước đó. Trong đó quyền lực không những đề cập đến khả năng của những người tham gia chính trị để theo đuổi chương trình nghị sự và lợi ích của họ, mà còn là nguồn quyền lực thay đổi tùy theo loại tác nhân chính trị và mục tiêu cụ thể của họ. Quyền lực có thể bắt nguồn từ khả năng tạo ra và sử dụng kiến thức, từ sự tích lũy vốn, từ sự thuyết phục về mặt đạo đức, cũng như từ sức mạnh quân sự hoặc kinh tế.
Thứ ba, người ta có thể áp dụng một cách tiếp cận trừu tượng hơn khi phân tích nhiều trung tâm quyền lực bằng cách sử dụng các phương pháp bởi trường phái kiến tạo tư tưởng (John Gerard Ruggie, 1996). Cách tiếp cận này đòi hỏi chúng ta phải điều tra bản chất được xây dựng trên phương diện xã hội của các chuẩn mực, giá trị, quy tắc và thủ tục. Do đó, trọng tâm không phải vào các tác nhân tự thân, như đặc điểm của hai định nghĩa trước, mà là vào sự tương tác của họ để bình luận về nội dung của các trật tự chính trị, kinh tế, hoặc xã hội và về các chế độ hỗ trợ chúng, John Ruggie lập luận, “cần phải xem cách quyền lực và mục đích xã hội hợp pháp trở nên hợp nhất để thể hiện thẩm quyền chính trị.” (John Gerard Ruggie, 1996). Trong bất kỳ tương tác liên tục nào trong một lĩnh vực vấn đề nhất định, các tác nhân có liên quan, dù là chính phủ, tổ chức phi chính phủ, tập đoàn, cộng đồng chuyên nghiệp hay sự kết hợp của những yếu tố này, tương tác mà tạo ra một tập hợp các chuẩn mực, giá trị, quy tắc và thủ tục hợp pháp được công nhận, thì đều là một loại quyền lực.
Như vậy, khi khái niệm về nhiều trung tâm quyền lực được tiếp cận theo cách này, các quốc gia và chính phủ quốc gia chỉ có thể được hiểu là một trong nhiều phạm vi thẩm quyền và một trong nhiều đấu trường mà thông qua đó việc xây dựng các giá trị, chuẩn mực và cách tiếp cận này cho thấy thế giới có nhiều loại trung tâm. Ví dụ kinh tế, khu vực pháp lý, khả năng tài chính và chính quyền thành phố, các tác nhân phi nhà nước như các tổ chức phi chính phủ, tổ chức nghị viện quốc tế, các tổ chức bán nhà nước như các ngân hàng trung ương, các nhóm dân tộc mà nhận được sự đồng thuận liên chủ thể và được cho là hợp pháp (James Rosenau, 1999). Và cuối cùng là Thị trường, Internet, các hội nghị của các tổ chức phi chính phủ quốc tế và các cộng đồng chuyên nghiệp, để kể tên một số ít, cũng có thể được coi là phạm vi thẩm quyền (James Rosenau, 1997).
Tác giả: NNXT./.