Search this site
Embedded Files
The Bridge of Nations
  • Giới thiệu
  • Học thuật và nghiên cứu
  • Sự kiện quốc tế
  • Khu vực
    • Châu Âu
    • Châu Á - Thái Bình Dương
The Bridge of Nations
  • Giới thiệu
  • Học thuật và nghiên cứu
  • Sự kiện quốc tế
  • Khu vực
    • Châu Âu
    • Châu Á - Thái Bình Dương
  • More
    • Giới thiệu
    • Học thuật và nghiên cứu
    • Sự kiện quốc tế
    • Khu vực
      • Châu Âu
      • Châu Á - Thái Bình Dương

‘Hợp tác quốc tế’: Những tranh luận chính trong lịch sử


Trong lịch sử, các nhà lý thuyết hiện thực và tân hiện thực cho rằng hợp tác quốc tế bắt nguồn từ các quốc gia (chủ thể đơn nhất, duy nhất) tìm kiếm lợi ích tuyệt đối về an ninh. Nếu lợi ích quốc gia thay đổi, liên minh hợp tác sẽ tự khắc tan rã (Jervis 1983). Sau Thế chiến II, các cơ chế quốc tế đa phương về kinh tế, thương mại và tài chính xuất hiện, các nhà lý thuyết hiện thực bổ sung vai trò của một cường quốc (Hoa Kỳ) trong việc thiết lập và duy trì một trật tự quốc tế – Lý thuyết bá quyền (Kindleberger 1973, Sinidal 1985). Có thể nói, các quốc gia chủ yếu tập trung vào lợi ích an ninh (Powell 1991). Khi hợp tác quốc tế phổ biến rộng rãi, các dòng lý thuyết mới xuất hiện như Lý thuyết chế độ (Regime theory) của Krasner 1983 hay Chủ nghĩa thể chế tân tự do (Neoliberal institutionalism) của Keohnae 1984, 1986. 

Như đã thấy, tuy các lý thuyết mới này không thay đổi giá trị cốt lõi của các lý thuyết hiện thực và tân hiện thực, nhưng dấy lên câu hỏi về sự hợp tác lâu dài và thiếu vắng một tiêu chuẩn giám sát (Baldwin 1993). Kể từ đó, các công trình nghiên cứu nổ ra để trả lời cho câu hỏi trên bằng cách tiếp cận yếu tố “nhận thức” (Hasenclever 1997, 2000). Trong đó, “nhận thức” đi từ cách tiếp cận “yếu” cua luật nhân quả (Hasenclever et al. 2000, tr.10) đến các phương pháp tân tự do (Goldstein &Keohane 1993, Nye 1987, Puchala & Hopskins 1983), và cuối cùng là chủ nghĩa kiến tạo (Finnemore & Sikkink 1998). Thành công lúc bấy giờ của chủ nghĩa này là thay vì tiếp cận sự mơ hồ về niềm tin, nhân quả, nó tiếp cận tri thức xã hội và chuẩn mực bản thân, xã hội để làm nền tảng cho việc hợp tác lâu dài của các chủ thể hợp tác (Wendt 1987, tr. 337).

Theo đó, Wendt đã lập luận rằng các nhà hiện thực/tân hiện thực chỉ định nghĩa các thống trong cấu trúc có thể quan sát được của các quốc gia (yếu tố vật chất), trong khi các nhà lý thuyết hệ thống thế giới kích hoạt các cấu trúc này theo các nguyên tắc tổ chức cơ bản của nền kinh tế (yếu tố phi vật chất) làm nền tảng và cấu thành các quốc gia (Wendt 1987, tr. 335). Từ đó, yếu tố bản sắc của các tác nhân đã bắt đầu được các yếu tố vật chất nhường chỗ và công nhận, bao gồm các yếu tố phi vật chất (Finnemore 1996). Hơn nữa, cấu trúc đã dần dần được coi là một quá trình chứ không phải là một trạng thái. Trong đó, cấu trúc là “các quy tắc và nguồn lực, liên quan một cách đệ quy đến việc tái tạo các hệ thống xã hội” (Giddens 1984, tr. 377 được trích dẫn trong Sewell 1992, tr. 5). Sewell (1992). Quan trọng hơn hết, ông cho rằng rằng cấu trúc của bất kỳ hệ thống xã hội nào cũng chứa ba yếu tố: điều kiện vật chất, lợi ích và ý tưởng. Trong suốt những năm 1990, giới học thuật quan tâm đến những ảnh hưởng mang tính quy định và cấu thành của các chuẩn mực trong chính trị quốc tế (Kate O’Neil et al., 2003). 


Nói cách khác, thay vì nghiên cứu theo hướng chủ nghĩa khu vực (regionalsim), giới học thuật hướng nghiên cứu vấn đề hợp tác giữa các quốc gia theo khuynh hướng khu vực hóa (regionalization), bởi sự xuất hiện của yếu tố phi chính phủ (non-government) tham gia ngày càng nhiều vào QHQT. Các yếu tố này không ảnh hưởng quá nhiều vào vai trò trung tâm của các quốc gia nhưng cũng thách thức các lập luận về bản sắc, bởi nó không tạo được bản sắc đồng nhất và hợp tác không chỉ đơn giản là một hành động duy nhất của các quốc gia (ví dụ: ký kết một hiệp ước), mà là một quá trình lặp đi lặp lại liên tục được đặc trưng bởi sự tham gia rộng rãi, đánh giá và thử nghiệm liên tục, và một quá trình (hoặc đường dẫn) có thể thúc đẩy sự chuyển đổi rộng lớn hơn của hệ thống quốc tế. Tuy nhiên, lý thuyết này nhanh chóng dấy lên tranh luận của hàng loạt các học giả, đặc biệt là nhà lý thuyết thể chế tân tự do (neoliberal institutionalism). Điển hình như là Keohane (1989), Finnemore’s (1996, p. 22), Kratochwil (1989, tr. 14), March & Olsen (1989), Risse (2002) với tranh cãi về mối liên hệ giữa các chuẩn mực cá nhân trong một thể chế và chuẩn mực chung về hành vi của một thể chế, giữa các chuẩn mực với sự duy lý trong việc đưa ra quyết định hành vi chung (Kate O’Neil et al., 2003).


Cho đến nay, các dòng lý thuyết tiếp cận vấn đề hợp tác quốc tế vẫn đang cố gắng lấp đầy các vết nứt nghiên cứu và ra sức tranh luận, tuy nhiên bức tranh QHQT càng thêm nhiều màu sắc và hợp tác quốc tế vẫn là vấn đề đầy biến động.



Tác giả: NNXT./.



amazing.ir2025@gmail.com
LinkedInTwitter
Google Sites
Report abuse
Page details
Page updated
Google Sites
Report abuse