Sau các nỗ lực nhận định trung cường dựa trên tiêu chí đánh giá quyền lực (power) và sức mạnh quốc gia (state capicities) qua hai cơ sở định lựong thô sơ và chính xác hoá bởi chỉ số kinh tế (GNP) như học giả kinh điển Holbraad (1984). Các tiêu chí tiếp theo đựoc công nhận nhiều hơn để làm cơ sở phân loại trung cường thành hai khái niệm: truyền thống (traditional) và mới nổi (emerging) đó là dựa trên biểu hiện hành vi ngoại giao và bản sắc phong cách riêng biệt của từng quốc gia theo đuổi quyền lực hạng trung này.
Quốc gia trung cường là những quốc gia ít được xem là quyền lực lớn, nhưng nó lại có khả năng hoạt động và mang hình ảnh có tầm ảnh hưởng trên hệ thống quốc tế hơn những quyền lực nhỏ hơn (Armijo và Burges, 2010, 17; Henrikson, 1997, 56-60; Schoeman, 2003, 351) Charalampos Efstathopoulos, “Middle Powers in World Trade Diplomacy,” 20. Các chính sách đối ngoại và hành vi của Phần Lan và Hàn Quốc và thấy rằng, ngày nay các quốc gia trung cường này trở thành ‘chủ chốt về địa chính trị’ (geopolitical pivots) trong khu vực và hệ thống quốc tế với khả năng tác động lên các quốc gia siêu cường, làm giảm thế bất ổn an ninh trong khu vực, tận dụng và liên kết với các quốc gia có sức mạnh lớn hơn để gây ảnh hưởng nhất định đến các quyết định khu vực và quốc tế[1]. Dứơi góc nhìn của Jordaan (2003), các nhân tố cốt lõi và biểu hiện quốc tế của hành vi ngoại giao của các quốc gia trung cường truyền thống và mới nổi lại khác nhau.
Các nhân tố cốt lõi trong hành vi ngoại giao
Theo Jordaan, mặc dù biểu hiện chính sách đối ngoại của tất cả các quốc gia trung cường đều cố gắng ổn định và hợp pháp hóa trật tự thế giới thông qua các sáng kiến hợp tác và thể chế đa phương; tuy nhiên, dựa vào các tác nhân cấu thành (mutually-influencing constitutive) và sự khác biệt về biểu hiện hành vi (behavioual differences) trên quốc tế, Jordaan (2003) đã phân biệt ‘trung cường truyền thống’ (traditional middle powers) và trung cường mới nổi (emerging middle powers).
Cũng như Cooper, Higgot và Nossal, với mong muốn tìm kiếm những giải pháp cho các vấn đề ở tầm vóc quốc tế hơn, Jordaan (2003) đã lựa chọn tiêu chí biểu hiện hành vi của chính sách đối ngoại để nhận định và phân biệt trung cường. Theo ông, các vấn đề quốc tế, nên đựơc giải quýêt bằng các giải pháp mang tầm quốc tế. Do đó, tiếp cận hành vi của các quốc gia trung cường trên quốc tế cần đựơc xét thông qua biểu hiện chính sách ngoại giao của quốc gia đó để đưa ra nhận định.
Trong khi các ‘trung cường truyền thống’ như Úc, Canada, hay Ba Lan là những quốc gia giàu có, ổn định, bình đẳng, hưởng một nền dân chủ xã hội và không có ảnh hưởng khu vực, thì các ‘trung cường mới nổi’ như Hàn Quốc, Brazil và Nam Phi là những quốc gia thuộc khu vực bán ngoại vi, không bình đẳng hoàn toàn, và các quốc gia dân chủ thường có tầm ảnh hưởng nhất định trong phạm vi khu vực và các hiệp hội, tổ chức riêng.
Về mặt biểu hiện hành vi, các quốc gia trung cường truyền thống có định hứong khu vực yếu kém và không rõ ràng, nhưng các quốc gia trung cường mới nổi lại có định hưóng mạnh mẽ, khuyến khích hội nhập khu vực và xây dựng sự khác biệt rõ rệt so với các quốc gia nhỏ yếu hơn trong khu vực. Thay vì phải lựa chọn thái độ nhựong bộ, các quốc gia trung cường mới nổi lại lựa chọn con đường là những ngừoi cải cách để gây sức ảnh hưởng lên toàn cầu và và giữ không cho sự biến đổi thế giới diễn ra một cách lan truyền.
Chủ nghĩa quốc tế và hành vi ngoại giao của các quốc gia trung cường
Đồng quan điểm với cách tiếp cận hành vi của Jordaan (2003), Efstathopoulos (2015, 16) đã đưa ra khung chuẩn về hành vi ngoại giao của Ấn Độ và Nam Phi trong Tổ chức Thương mại Thế giới WTO. Từ đó, đưa ra tiêu chí cho phép xác định các tính phổ biến của các kiểu hành vi ngoại giao (commonality of behavior) của các quốc gia trung cường trong hệ thống quốc tế, khả năng và vai trò theo đuổi lợi ích riêng ở cấp độ quốc tế (Ping, 2005, tr. 51–52).
Sau chiến tranh lạnh, cấu trúc quyền lực trên quốc tế có sự thay đổi mạnh mẽ, một loại quyền lực tầm trung mới đang thiết lập sự thống trị khu vực của nó và tìm kiếm vai trò mới trong hệ thống phân cấp quốc tế của các quốc gia (Shaw, 1994, tr. 19, 23). Theo đuổi chủ nghĩa cải cách quốc tế (international reformist) với các biểu hiện trở thành công dân quốc tế tốt (good international citizen) qua chính sách ngoại giao ổn định, nắm lấy các vị trí lãnh đạo khu vực, có ảnh hưỏng lên các tranh chấp quốc tế, sự khác biệt mạnh mẽ giữa các quốc gia trung cường phưong nam (southern middle power) và phương tây (western middle power) được vạch rõ.
Cung cấp nền tảng tăng cường tiềm lực của các nhà lãnh đạo, ủng hộ mạnh mẽ chủ nghĩa đa phưong, trung cường mới nổi phưong nam, các quốc gia này từng bứoc có vị thế của mình trên toàn cầu (Jordaan, 2003, pp. 176–178 và Efstathopoulos, 2015, pp. 34). Các quốc gia điển hình như Nam Phi, quốc gia thường được mô tả là trung cường nguyên mẫu của miền Nam, với vai trò của người theo đuổi chủ nghĩa quốc tế, giống như hình thức trung cường cổ điển được các nước phương tây theo đuổi (Bischoff, 2003; Hamill và Lee, 2001; Schoeman, 2003; Van der Westhuizen, 1998).
Quốc gia thứ hai đựoc xem là tiêu biểu cho hành vi ngoại giao khác biệt đó là Ấn Độ. Trong quá khứ được xem như một trung đầy tham vọng, cố gắng có tiếng nói độc lập trong Chiến tranh Lạnh (Mellor, 1979), mặc dù nó vẫn giữ lại các yếu tố then chốt của phương pháp tiếp cận quyền lực trung bình đối với chính sách đối ngoại (Efstathopoulos, 2011). Ấn Độ đang chứng minh cho thế giới thấy rõ định hứong lớn lao hơn của mình qua quá trình chuyển sang trạng thái quyền lực lớn hơn (major power status) kể từ sau chiến tranh lạnh (Nayar và Paul, 2003).
[1] Halford J. Mackinder, ‘The Geographical Pivot of History’, Geographical Journal, Vol. 23. (1904), pp. 421–44 and Halford J. Mackinder, Democratic Ideals and Reality (Westport: Greenwood, 1962). Many prominent works build on Mackinder and some international relations theorists subsequently assessed small and middle power politics and their regional impact, depicting geopolitical ‘pivots’ globally on every continent, as attested to by some of the sources cited in this article.
Tác giả: NNXT./.