1. ‘Middle Power’ đến Thế chiến thứ nhất
Ngay từ buổi đầu, khái niệm “trung cường” được sử dụng trong những nỗ lực học thuật để tìm hiểu xã hội quốc tế theo trật tự phân cấp. Khái niệm “hạng trung” (middle) đã được tình cờ tìm thấy trong một số nghiên cứu về quan hệ quốc tế từ thế kỷ 15 nhưng bản thân thuật ngữ “trung cường” trong giai đoạn đầu này không được hệ thống hoặc có liên quan đến nhau.
Bắt nguồn từ nhận thức được sự khác nhau của các quốc gia về vai trò và vị trí trong hệ thống quốc tế, Martin Wight (1946) trong tác phẩm Power Politics đã đề cập và đưa ra ý tưởng đầu tiên về phân loại quyền lực trong chính trị Châu Âu, dựa trên các bản thảo lịch sử của những học giả nổi tiếng thế kỷ trước như Aquinas, Bartolus, hay Giovanni Botero. Qua đó giúp chúng ta hiểu rõ quá trình hình thành và phát triển ý tưởng phân loại quyền lực trong lịch sử.
Mặc dù trong giai đoạn đầu tiên này, đa số các học giả như Aquinas, Bartolus, hay Giovanni Botero đều dựa vào quy mô và kích cỡ của quốc gia để phân loại quốc gia, và các học giả này đều có một điểm chung đáng để nhắc đến: đó là sự nhận ra mức độ trung bình của quốc gia. Aquinas, với nỗ lực phản bác lại sự nhận định rằng các quốc gia là đồng nhất, ông đã phân biệt ba loại đơn vị chính trị: thành phố, tỉnh và vương quốc. Trong khi đó, Bartolus thì chia làm 3 nhóm: thành phố; các tiểu bang lớn do tầng lớp quý tộc quản lý (chẳng hạn như Venice and Florence), và một quốc gia hay dân tộc là toàn bộ lãnh thổ, chỉ có chế độ quân chủ mới hiệp nhất được (chẳng hạn như đế chế La Mã).
Đến năm 1589 một tác phẩm mang tên “Ragion di Stato” của một giáo sư về ngôn ngữ học cũng là tổng giám mục của Milan - Giovanni Botero đã chia quốc gia thành ba lớp: lãnh địa nhỏ, lớn và trung bình. Đặc biệt trong tác phẩm có đề cập tới các lãnh địa trung bình, với lực lượng (force) và sự chuyên chế (authority) đủ để duy trì chính nó mà không cần sự giúp đỡ của người khác, như lãnh địa Signory of Venice, Kingdom of Boemia, Duchy of Milan, và County of Flanders. Botero đã phân loại quốc gia theo một bước tiến mới, một sự kết hợp giữa quy mô lãnh thổ (địa lý) và năng lực của quốc gia. Ông có một nhận định sâu hơn về khả năng tồn tại của các trung cường vào thời điểm đó. Ông cho rằng các lãnh địa có quy mô trung bình là thường duy trì lâu dài nhất, vì họ không bị đặt vào thế bạo lực bởi sự yếu đuối của họ và ghen tị bởi sự vĩ đại của họ từ các lãnh địa khác. Sự giàu có và quyền lực nói không với bạo lực được các lãnh địa trung bình này ưu tiên theo đuổi. Ngoài ra Rousseau cũng phân biệt thành 3 loại quốc gia - lớn, vừa và nhỏ - nhưng không đề cập sâu hơn.
Năm 1757, một tác phẩm đặc sắc của Mably, “Principes des negociations pour servir d'introduction au droit public de l'Europe, jonde sur les traités”, lần đầu tiên đã thoát ra khỏi việc đề cập về quy mô lãnh thổ mà quan tâm đến sự tương tác của quốc gia trong chính trị quốc tế. Tuy nhiên, hành vi và vai trò của quốc gia bậc trung này phụ thuộc rất nhiều vào mối quan hệ tồn tại giữa các cường quốc thống trị. Tác phẩm của Mably nêu ra trường hợp của Áo và Pháp trong thời gian thống trị của mình đã không xảy ra các cuộc xung đột nghiêm trọng do họ có sự giúp đỡ của các nước láng giềng có liên quan đến các tranh chấp của họ. Trong khi các cường quốc thống trị coi những đồng minh này là một công cụ được sử dụng cho mục đích riêng của họ, thì các đồng minh của họ nhận thấy cơ hội để nâng cao bản thân mình bằng cách tiêu tốn các quyền lực thống trị. Nhưng không phải tất cả đều thành công.
Chính vì vậy, việc thoát ra khỏi liên minh, nâng cao giá trị bản thân và vừa phải tránh xung đột, sự mơ hồ về một loại quyền lực thứ cấp được hé mở. Thuật ngữ ‘trung cường’ sau đó xuất hiện và không phải là một thuật ngữ mới trong các tác phẩm chính trị của Đức. Một số học giả hình thành ý tưởng về sự hiệp nhất Đức đã sử dụng 'trung cường' như là quyền lực trung tâm. Điều này được lấy cảm hứng từ những ý tưởng nổi lên ở Đức sau cuộc cách mạng Pháp và những cuộc xâm lược của Napoléon. Ngay từ năm 1802 nhà thơ Johann Gottfried Herder (tiền thân của chủ nghĩa dân tộc Đức) đã sử dụng thuật ngữ theo nghĩa này trong quan điểm của mình.
Karl Heinrich Ludwig Politz – một nhà khoa học chính trị tại đại học Leipzig, đã phân loại quyền lực dựa trên tầm quan trọng chính trị của nó. Cùng với Friedrich Gentz (1822), tuy chưa thực sự đi vào phân tích và và thậm chí chưa quan tâm đến các loại quyền lực thứ cấp, nhưng trong những phân tích về chính trị Châu Âu của hai học giả này cho rằng liên minh Châu Âu, dưới sự áp đảo của các cường quốc khác, đã gợi mở ra bốn loại quyền lực tương đối dựa trên các tiêu chí về quy mô (dân số, trình độ trí tuệ,…), trách nhiệm, đạo đức quốc tế (moral force) và đưa ra một hệ thống sắp xếp, phân loại quyền lực cụ thể. Tuy không sử dụng thuật ngữ ‘trung cường’, nhưng cấu trúc QHQT trong hệ thống phân tích của Politz và Gentz đã mang đến góc nhìn về vị trí của ‘các quốc gia thứ cấp’.
Học giả Friedrich Ludwig Lindner với tác phẩm “Manuscript aus Suddeutschland” xuất hiện tại Luân Đôn năm 1820, đã vạch ra các cường quốc trung cường được dựa vào để hoạt động như những người cân bằng (balancers), để hỗ trợ bất kỳ cường quốc bị tấn công từ các quốc gia khác như một chức năng bổ sung trong hệ thống quốc tế. Không bị các láng giềng dễ dàng vượt qua, họ cũng tách các đối thủ quyền lực lớn về mặt địa chiến lược.
Hơn một thập kỷ sau đó, năm 1831, bổ sung cho các kiên trì phân loại quyền lực của các quốc gia, Karl von Clausewitz nhận định rằng quyền lực thứ cấp này dường như không đơn giản là một quốc gia thuộc về ‘phân khúc giữa’ (intermediate category) theo phân loại dựa trên quyền lực, mà nó cần một số đặc tính về địa lý, chính trị và chiến lược nhất định. Theo Clausewitz, về mặt chính trị, nó phải đáng tin cậy và thân thiện đối với các nước láng giềng. về chiến lược, nó phải có đủ khả năng bảo vệ bản thân trước những cường quốc láng giềng về mặt địa lý, quyền lực thứ cấp phải nằm giữa các cường quốc để trở thành ‘trung cường’ (Zwischenmacht). Nhìn chung, trong các tác phẩm chính trị của Châu Âu thời điểm này, không có quá nhiều ý tưởng về trung cường, các học giả không ủng hộ đại cường cũng không phản đối trung cường.
2. Middle Power từ Thế chiến thứ nhất đến nay
Sau Thế chiến thứ nhất, việc sử dụng thuật ngữ trung cường và việc công nhận sự tồn tại của một nhóm nước này trong Hội Quốc Liên đã làm ảnh hưởng đến giới hàn lâm. Một số nhà nghiên cứu chủ yếu ở Châu Âu và Bắc Mỹ như C. Howard-Ellis, C. K. Webster, S. Herbert, và Waldo E. Stephens đã khảo sát khái niệm và thuật ngữ trung cường. Tuy nhiên, các học giả trong giai đoạn này chủ yếu là quan tâm đến các trung cường trong Hội Quốc Liên, và Holbraad đã kết luận trong bài phân tích nghiên cứu về trung cường rằng “họ [các nhà nghiên cứu/người viết] hiếm khi mạo hiểm đi vào việc khái quát hóa và nghiên cứu hành vi điển hình và chức năng tự nhiên của các trung cường trong nền chính trị quốc tế”.
Tiến trình phát triển khái niệm và nổ lực phân loại trung cường diễn ra mạnh mẽ từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất và trở thành chủ đề ngoại giao chính của các quốc gia trong hệ thống quốc tế. Cụ thể trong Hội nghị Hòa bình 1919, Clemenceau, Lloyd George và Wilson đã đưa ra quyết định về sự đại diện của các quốc gia hiếu chiến, trung lập và các quốc gia mới; việc xếp hạng các quốc gia sẽ dựa trên nỗ lực của họ trong chiến tranh (war effort). Theo đó, Bỉ và Serbia được xếp vào phân loại hai; Canada, Úc, Nam Phi và Ấn Độ được xếp vào phân nhóm ba. Bên cạnh đó các yếu tố như quy mô và sức mạnh quốc gia cũng được áp dụng như một tiêu chí để đánh giá, ví dụ như Brazil – một quốc gia lớn nhất khu vực Nam Mỹ - được xếp vào phân nhóm hai mặc dù nó chỉ giữ vai trò nhỏ trong chiến tranh.
Năm 1968, các thành viên Viện nghiên cứu của Hiệp hội Chính sách đối ngoại Đức, đã cố gắng xây dựng các định nghĩa chính xác để phân biệt các loại quyền lực khác nhau; tuy nhiên, họ nhận thấy không thể thiết lập các tiêu chí khách quan, nên quyết định phân loại quyền lực dựa trên mức độ ảnh hưởng của chúng. Theo đó trung cường là 'một quốc gia đóng một vai trò trong khu vực của nó'.
Cũng dựa trên cơ sở mức độ phạm vi ảnh hưởng đó, hai nhà khoa học chính trị Mỹ, L.J. Cantori và S. L. Spiegel (1970), đã phân thành bảy loại trạng thái. Bốn loại đầu bao gồm tất cả các quốc gia 'có năng lực'(active), đó là quyền lực chính (primary), phụ (secondary), trung (middle) và nhỏ (minor). Quyền lực phụ (secondary powers) là Vương quốc Anh, Pháp, Tây Đức, Nhật Bản và Trung Quốc; còn trung cường là 'những quốc gia mà phân cấp quyền lực cho phép nó chỉ đóng vai trò hạn chế và chọn lọc trong các hệ thống thuộc cấp khác hơn là trong hệ thống của chúng'.
Việc xếp 5 quốc gia trên vào phân nhóm quyền lực thứ cấp, dù xét theo các tiêu chí phân loại thì chúng chỉ thuộc phân nhóm trung cường (1975), được Holbraad (1984) diễn giải như sau: Anh, Pháp và Trung Quốc được xem là ba quốc gia đại cường vào cuối Thế chiến 2, chiếm ba ghế thường trực trong Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc, cùng với đó là kho vũ khí hạt nhân đáng kể khiến vị thế và tầm ảnh hưởng của chúng vượt trội hơn so với bất kỳ quốc gia trung cường nào. Về phần Nhật và Đức mặc dù gánh chịu hậu quả chiến tranh nặng nề, nhưng tốc độ phát triển kinh tế vượt bậc đã giúp họ vượt xa các quốc gia khác. Chính vì thế, 5 quốc gia này thường được xem là ‘quyền lực thứ cấp’ hoặc ‘các loại quyền lực lớn khác’.
Trong các công trình nghiên cứu về sau, Haas (1974) dựa trên các tiêu chí truyền thống toàn cầu và lợi ích khu vực (the traditional criteria of global and regional interests) đã phân biệt đơn giản hơn giữa các cường quốc lớn (major), trung (middle) và nhỏ (minor). Theo ông trung cường và các quốc gia nhỏ có lợi ích chính chỉ trong một hệ thống khu vực hóa. Trước đây là 'các phần tử nổi bật trong khu vực, những người có thể ‘được các đồng minh tìm kiếm nhưng không bao giờ là lãnh đạo của một hệ thống con'.
Một số học giả khác như John Burton, William Schneider tập trung hơn vào sức mạnh quân sự và chiến lược, trung cường được xác định với tham chiếu đến năng lực sản xuất vũ khí hạt nhân. John Burton (1965) cho rằng trung cường là những quốc gia không có quyền lực lớn mà có một ngành công nghiệp phát triển và có khả năng sở hữu vũ khí hạt nhân. Còn Schneider (1969) thuộc Viện Hudson đề xuất rằng ‘trung cường’ của thập niên 1970 và 1980 sẽ là 'những quốc gia công nghiệp hóa hoặc bán công nghiệp hóa có khả năng phân bổ 10-20 tỷ đô trong giai đoạn 5 đến 15 năm để phát triển nguồn lực hạt nhân'.
Cuối thế kỷ 20, Holbraad (1984) – một trong những học giả kinh điển đề cập đến khái niệm và cách tiếp cận trung cường trong tác phẩm ‘trung cường trong chính trị quốc tế’ (Middle power in International politics) đã dựa trên những phân tích thống kê mang tính chính xác cao về tiêu chí định lượng nguồn lực quốc gia như: kích thước lãnh thổ, quy mô dân số, sức mạnh quân sự, chỉ số kinh tế... để phân loại trung cường, trong đó yếu tố kinh tế được xem là trọng tâm.
Theo Eduard Jordaan (2003) thì trung cường là các quốc gia không lớn nhưng cũng không nhỏ xét về quyền lực quốc tế (international power), năng lực (capacity) và tầm ảnh hưởng (influence) nhưng thể hiện được xu hướng thúc đẩy sự kết nối và tính ổn định trong hệ thống thế giới, chẳng hạn như: Úc, Canada, Na Uy và Thụy Điển. Jordaan phân loại trung cường thành trung cường mới nổi (emerging middle power) và trung cường truyền thống (traditional middle power) dựa trên hai yếu tố khác biệt (differences): khả năng tạo ảnh hưởng lẫn nhau (mutually-influencing constitutive) và hành vi (behavioual). Theo Jordaan thì mọi trung cường đều thể hiện hành vi chính sách đối ngoại làm ổn định và chính danh hóa trật tự toàn cầu, cụ thể là thông qua các sáng kiến đa phương và hợp tác.Tuy nhiên, việc xếp các quốc gia như Brazil, Argentina, Malaysia, Nigeria, Thổ Nhĩ Kỳ và Nam Phi vào loại trung cường đang còn gây nhiều tranh cãi. Theo Jordaan thì việc xếp loại các trung cường truyền thống (traditional middle power) như Úc, Canada, Na Uy hay Thụy Điển hay các trung cường mới nổi (emerging middle power) như Argentina, Malaysia hay Nam Phi có một sự lấp lửng chưa rõ ràng (ambivalent vagueness).
Trung cường theo Cooper, Higgott và Nossal là các quốc gia được quốc tế công nhận theo hành vi chính sách đối ngoại của mình (foreign policy behaviour). Hành vi chính sách đối ngoại của các trung cường là xu hướng tìm kiếm giải pháp đa phương cho các vấn đề mang tính quốc tế để tìm ra sự dàn xếp (compromise) thường là một phần của giải pháp cho các vấn đề quốc tế. Theo Jordaan thì mọi trung cường đều hướng đến hành vi chính sách đối ngoại làm ổn định và chính danh hóa trật tự toàn cầu, cụ thể là thông qua các sáng kiến đa phương và hợp tác. Ở một giai đoạn lý tưởng như cuối thế kỷ 20, Cooper (2013) còn cho rằng một số quốc gia trung cường còn nổi bật vai trò của mình như một lãnh đạo kinh tế trong khu vực trong hành vi ngoại giao vững chắc và danh tiếng của mình trên hệ thống quốc tế.
Trong khi đó, trong không gian của sự chuyển tiếp cấu trúc hệ thống toàn cầu khi không còn sự dẫn đầu quốc gia đỉnh cực hay bá quyền sau chiến tranh lạnh, một sự cải cách để làm nổi bật bản sắc riêng biệt của các quốc gia trung cường trong thể chế đa phương. Từ tiền đề cải cách này, cộng với sự mở rộng khái niệm về sự trỗi lên của các trung cường (rising middle), Cooper (2013) đã đưa ra tiêu chí về mô hình bản sắc trong việc định hình các “phong cách ngoại giao” (diplomacy styles) của các quốc gia được xếp loại trung cường và phân loại thành trung cường truyền thống (traditional) hoặc phi truyền thống (non-traditional).
Sau đó, cũng như Jordaan, Efstatpoulos (2015) dựa trên biểu hiện chính sách ngoại giao của các quốc gia, cụ thể là Ấn Độ và Nam Phi để phân loại trung cường cũ phương tây ở Châu Âu trước Chiến tranh lạnh và các trung cường mới nổi phương nam sau thời kỳ Chiến tranh lạnh. Qua đó giới thiệu hai phương pháp tiếp cận bao gồm (i) cách tiếp cận hành vi và (ii) phương pháp tiếp cận lý thuyết. Cách tiếp cận hành vi bao gồm mẫu hình (framework) có ảnh hưởng nhất đến việc xác định và giả định trung cường. Chúng cho phép xác định các kiểu hành vi ngoại giao khác biệt, chứng minh trung cường hoạt động trong hệ thống quốc tế như thế nào, cách họ đặt chính sách đối ngoại và cách họ chọn để vận hành nguồn tài nguyên của mình như thế nào.
Một số lượng lớn trung cường đã cho thấy họ có một loạt các vai trò đặc biệt và chức năng riêng biệt tương quan với khả năng quốc tế hoá của họ trong hệ thống quốc tế. Chính vì điều này có một số học giả lập luận rằng vai trò và chức năng chính là một trong các tiêu chí để nhận diện một trung cường mặc dù vai trò của các quốc gia trung cường tuy đặc biệt nhưng không phải lúc nào cũng được công nhận như trong kết luận chính của Holbraad (1984). Các học giả như Holbraad, Sisir Gupta, Rajan và Shivaji Ganguly trong các bài nghiên cứu như ‘Vai Trò Của Các cường quốc Trung Cường Không Liên Kết' (The Role of Non-Aligned Middle Powers) và ‘Quan Hệ Quyền Lực Lớn, Trật Tự Thế Giới Và Thế Giới Thứ Ba’(Great Power Relations, World Order and the Third World) đều cho rằng, bằng một cách nào đó, vai trò tác động đến phản ứng cụ thể của các quốc gia trung cường.
Việc xác định vị trí và định hình giả thuyết các loại vai trò của các quốc gia trong hệ thống quốc tế không những ảnh hưởng đến phản ứng chiến lược của các quốc gia khác, mà còn tác động đến chính trị của các cường quốc. (Holbraad, 1984, 8, 104). Ngoài ra, theo Jordaan (2003), các chính sách đối ngoại của tất cả các quốc gia hạng trung ở thế kỷ 21 có vai trò hợp pháp hóa và kiểm soát sự ổn định các động thái trong khu vực, làm suôn sẻ hơn sự vận hành của trật tự thế giới. Hoặc có vai trò như các ‘quốc gia đệm’ (buffer states), nằm dưới cấp các quốc gia siêu cường.
Tuy nhiên, những tranh cãi về giả thuyết tiếp cận vai trò, chức năng sau đó được xem là có thể được kiểm tra dựa trên hành vi thực tế của các quốc gia trung cường trong các tình huống lịch sử có liên quan . Việc tìm hiểu chức năng của quốc gia trung cường thường dẫn đến nhận thức sai lầm trong việc phân loại các cường quốc trung cường . Cox cũng lưu ý rằng “vai trò trung cường không phải là một cái gì đó cố định mà là một cái gì đó phải được xem xét trong bối cảnh thay đổi liên tục của hệ thống quốc tế” (Cox 1989, 242).
Kết luận
Tóm lại, nhận thức được sự cần thiết tìm ra các tiêu chí xác định và phân loại hình thức tầm trung của các quốc gia trên hệ thống quốc tế ngày càng phức tạp hiện nay, một số các khía cạnh tiếp cận cường quốc trung cường của các học giả trên thế giới được tổng hợp và trình bày theo không gian và thời gian lịch sử cột mốc là chiến tranh lạnh cho đến nay. Tuy còn nhiều tranh cãi xoay quanh việc lựa chọn tiêu chí và phân loại trung cường, nhìn chung các tiêu chí được quan tâm và công nhận nhiều hơn để nhận định trung cường đó là tiêu chí định lượng về nguồn lực quốc gia. Ngoài ra, dựa vào biểu hiện hành vi chính sách đối ngoại và bản sắc riêng biệt của các quốc gia trung cường, hai loại trung cường truyền thống và mới nổi có thể được phân biệt.
Tác giả: NNXT./.